|
SỰ HÌNH THÀNH NHO GIÁO
Trong xã hội Trung Hoa cổ đại, “Nho” là một danh hiệu chỉ những người có học thức, biết lễ nghi. Nho giáo là hệ thống giáo lý của các nhà Nho nhằm tổ chức xã hội có hiệu quả. Những cơ sở của nó được hình thành từ thời Tây Chu, đặc biệt là với sự đóng góp của Chu Công Đán. Đến lượt mình, Khổng Tử phát triển tư tưởng của Chu Công, hệ thống hóa lại và tích cực truyền bá, vì vậy ông được xem là người sáng lập Nho giáo.

Khổng Tử
Sách kinh điển của Nho giáo gồm 2 bộ:
1. Bộ thứ nhất là Ngũ kinh, gồm năm cuốn sách, phần lớn có từ trước, Khổng Tử đã gia công san định, hiệu đính và giải thích. Năm cuốn đó là:
- Kinh thi là sưu tập thơ ca dân gian, trong đó chủ đề tình yêu nam nữ khá nhiều. Khổng Tử dùng nó để giáo dục một tình cảm lành mạnh và cách thức diễn đạt tư tưởng khúc chiết rõ ràng.
- Kinh thư ghi lại những truyền thuyết và biến cố về các đời vua cổ - anh minh như Nghiêu, Thuấn; tàn bạo như Kiệt, Trụ. Khổng Tử gia công san định lại những mong đem họ làm gương cho đời sau.
- Kinh lễ ghi chép những lễ nghi thời trước, Khổng Tử hiệu đính lại mong dùng nó làm phương tiện duy trì và ổn định lại trật xã hội.
- Kinh dịch khởi thủy vốn ghi chép về Âm dương, Bát quái… ở dạng ký hiệu với sự đóng góp của Chu Văn Vương và Chu Công Đán. Từ bộ “Chu dịch” đó, Khổng Tử đã giảng giải sâu rộng thêm và trình bày thứ tự cho rõ ràng, dễ dùng hơn.
- Kinh Xuân Thu nguyên là sử ký của nước Lỗ quê hương Khổng Tử, được ông dụng công chọn lọc sự kiện, kèm theo những lời bình, thậm chí sáng tác thêm lời thoại để giáo dục các vua chúa.
2. Sau khi Khổng Tử mất, học trò tập hợp những lời dạy của thầy lại soạn ra cuốn “Luận ngữ” (các lời bàn luận). Học trò xuất sắc của Khổng Tử là Tăng Sâm (thường gọi là Tăng Tử) dựa vào lời thầy mà soạn sách “Đại học” dạy phép làm người quân tử. Rồi một học trò Tăng Tử là Khổng Cấp, thường gọi là Tử Tư (ông cũng chính là cháu nội của Khổng Tử), viết ra “Trung dung” nhằm phát triển tư tưởng của ông nội mình về cách sống dung hòa, không thiên lệch. Đến thời Chiến quốc, các học phái nổi lên như nấm, có Mạnh Kha (khoảng 390 – 305 tr.CN), thường gọi là Mạnh Tử, là người bảo vệ xuất sắc tư tưởng của Khổng Tử; những lời của ông được học trò về sau biên soạn lại thành sách “Mạnh Tử”. “Đại học”, “Trung dung”, “Luận ngữ”, “Mạnh tử” về sau hợp lại gọi là Tứ thư. Tứ thư và Ngũ kinh trở thành hai bộ sách gối đầu giường của Nho gia.
Mạnh Tử đã khép lại một giai đoạn quan trọng – giai đoạn hình thành Nho giáo. Đó là Nho giáo nguyên thủy, Nho giáo tiên Tần (trước thời Tần) hay còn gọi là tư tưởng Khổng Mạnh.
NỘI DUNG CƠ BẢN VÀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NHO GIÁO
1. Nội dung
Để tổ chức xã hội, điều cốt lõi là đào tạo cho được những người cai trị kiểu mẫu – người Quân tử (quân = cai trị; quân tử = người cai trị). Để trở thành người quân tử , trước hết là phải Tu thân. Có ba tiêu chuẩn chính:
- Đạt “đạo”. Đạo là con đường, là những mối quan hệ mà con người phải biết cách ứng xử trong cuộc sống. Có 5 đạo: vua tôi, cha con, vợ chồng, anh em, bè bạn (quân thần, phụ tử, phu phụ, huynh đệ, bằng hữu). Năm đạo đó gọi là ngũ luân (luân = thứ bậc, cư xử). Trong xã hội, cách ứng xử hợp lý hơn cả là trung dung (dung hòa ở giữa).
- Đạt “đức”. Người quân tử, theo Khổng Tử, nếu có ba điều nhân – trí – dũng thì gọi là đạt đức. Về sau, Mạnh Tử bỏ “dũng” mà thay bằng “lễ, nghĩa” thành 4 đức: nhân, lễ, nghĩa, trí. Đến đời Hán thêm tín hành 5 đức gọi là ngũ thường.
Ngoài các tiêu chuẩn về “đạo” và “đức”, người quân tử còn phải biết thi-thư-lễ-nhạc. Khổng Tử nói rằng con người “hưng khởi trong lòng là nhờ học Thi, lập thân được là nhờ biết Lễ, thành công được là nhờ có Nhạc” (Luận ngữ). Nói cách khác, ông đòi hỏi người cai trị không thể là dân võ biền, mà phải có một vốn văn hóa toàn diện.
Tu thân rồi, bổn phận của người quan tử là Hành Động phải tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Kim chỉ nam cho mọi hành động trong công việc cai trị là hai phương châm:
- Phương châm thứ nhất là Nhân trị. Nhân là tình người; nhân trị là cai trị bằng tình người, coi người như bản thân mình. Sách Luận ngữ kể rằng khi học trò hỏi về Nhân, Khổng Tử đáp: “Yêu người”; còn khi hỏi thế nào là Nhân, ông trả lời: “Điều gì mà mình không muốn thì đừng làm cho người khác”, “Mình muốn lập thân thì phải giúp người khác lập thân, mình muốn thành đạt thì phải giúp người khác thành đạt”.
- Phương châm thứ hai là Chính danh, tức là sự vật phải ứng với tên gọi, mỗi người phải làm đúng với chức phận của mình. Chính danh trong cai trị là phải làm sao để “vua ra vua, tôi ra tôi, cha ra cha, con ra con” (Luận ngữ). “Nếu danh không chính thì lời nói không thuận. Lời nói không thuận tất việc chẳng thành” (Luận ngữ).
Đó chính là những nét chủ yếu nhất trình bày trong các kinh sách của học thuyết Nho giáo. Gọn hơn nữa nó đã được những người sáng lập tóm gọn trong 9 chữ: Tu nhân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Và 9 chữ ấy cũng nằm trong 2 chữ cai trị mà thôi.
2. Sự phát triển:
Xét về ngọn nguồn, có thể thấy Nho giáo chính là sự tổng hợp của hai truyền thống – văn hóa gốc du mục phương Bắc và văn hóa nông nghiệp phương Nam.
Sự phức tạp về nguồn gốc đã gây nên tấn bi kịch của Nho giáo: cái Nho giáo mà Khổng Tử tốn bao công lao gây dựng, vừa có thể nói là rất thành công, vừa có thể nói là đã thất bại.
Thất bại, bởi trong khi các bậc đế vương vốn quen cầm quyền theo lối chuyên chế bằng vũ lực và pháp trị thì Khổng tử lại khuyên họ nên cầm quyền theo lối nhân trị. Chính vì đi ngược lại so với xu thế chung như vậy nên sinh thời, Khổng Tử hầu như chẳng được ai dùng.
Năm 246 tr.CN, Tần Thủy Hoàng dùng vũ lực thống nhất thiên hạ, áp dụng một chính sách cai trị bằng pháp luật độc đoán vào bậc nhất; nó đối lập hoàn toàn với chủ trương cai trị bằng tình người dân chủ của Nho gia. Mâu thuẫn đó là nguyên nhân tất yếu dẫn đến việc nhà Tần tiêu diệt Nho giáo với hành động tàn bạo đốt sách, chôn Nho nổi tiếng.
Chính vì quá chuyên chế mà chỉ 5 năm sau khi Tần thủy Hoàng chết, nhà Tần đã sụp đổ; nhà Hán lên thay (năm 202 tr.CN). Hán Cao Tổ Lưu Bang lúc đầu cũng dựa vào vũ lực, coi thường trí thức, văn hóa. Có lần ông nói với Lục Giả: “Ta ngồi trên lưng ngựa mà được thiên hạ, cần gì phải học Thi, Thư?”. Nhưng rồi Hán Cao tổ đã biết rút kinh nghiệm của triều Tần, nghe lời khuyên của Lục Giả, thủ tiêu các hình phạt hà khắc, giảm nhẹ sưu thuế và trưng dụng trí thức để bảo vệ ngai vàng.
Theo lời khuyên của Đổng Trọng Thư, Hán Vũ đế là ông vua đầu tiên đưa Nho giáo lên địa vị quốc giáo. Từ đây, Nho giáo trở thành hệ tư tưởng chính thống và công cụ tinh thần bảo vệ chế độ phong kiến Trung Hoa suốt hai nghìn năm lịch sử. Không những thế, nó còn được truyền bá khắp các nước Đông Á; Khổng Tử được coi lên bậc thánh; trên thế giới, tên tuổi của ông không ai là không hay biết
Thực ra, đây là một sự kiện mang tính hai mặt. Xét về hình thức thì đúng là Nho giáo thắng, nhưng trên thực tế thì chính là đạo Khổng thua. Nguyên nhân của cả việc thắng lẫn thua đều là ở chất tình cảm và dân chủ phương Nam mà Nho giáo nguyên thủy đã tiếp thu.
Tại sao nhà Hán không chọn các giáo phái khác trong số “trăm nhà” mà lại chọn đúng Nho giáo? Chính vì Nho giáo có cái mà các học phái khác kế thừa truyền thống phương Bắc đều thiếu: đó là đường lối nhân trị (cai trị bằng tình và coi trọng dân chủ). Chọn Nho giáo, nhà Hán sẽ được sự ủng hộ của nhân dân – những người bấy nay rên xiết bởi chiến tranh và chế độ pháp trị bạo tàn.
Nhưng lối sống theo tình cảm và dân chủ chỉ phù hợp với những phạm vi nhỏ hẹp của các làng xã nông nghiệp, khi mọi người đều quen biết nhau, nó làm sao mà áp dụng được cho một đất nước Trung Hoa rộng lớn? Để giải quyết mâu thuẫn này, nhà Há đã sử dụng hai biện pháp:
- Một mặt, nhà Hán đề cao Nho giáo một cách một cách hình thức, còn trên thực tế, họ vẫn cai trị theo lối Pháp gia. Họ chủ trương dương đức, âm pháp, hay như sau này có người gọi là ngoại Nho, nội Pháp. Đây là một chính sách hai mặt với mục đích mị dân, lấy “Nho” và “Nhân trị” mềm mỏng làm cái bình phong để che đậy cho lối cai trị bằng pháp luật cứng rắn.
Mặt khác, ngay cả cái Nho giáo hình thức ấy nhà Hán cũng không giữ nguyên. Hán Vũ Đế đã giao cho Lưu Hâm (cùng Tăng Hoàng Dương, Công Tôn Hoàng) cải tạo, biến đổi Nho giáo một cách cơ bản, loại bớt mâu thuẫn, biến nó thành một công cụ cai trị thực tiễn và hữu hiệu phục vụ cho vương triều. Để làm được điều đó, nhóm Lưu Hâm thực chất chủ yếu là tập trung vào loại trừ bớt chất “nông nghiệp phương Nam” trong Nho giáo:
- Trước hết, những người sửa đổi đã hạn chế nhắc đến “nhân trị”; thay vào đó họ nói nhiều tới “lễ tri” và đặc biệt đề cao Trời (Thiên mệnh): Mọi việc trên thế gian đều do Trời quyết định, cho nên mỗi khi trái ý, Trời trừng phạt bằng cách giáng thiên tai, dịch bệnh… Đề cao Trời để rồi đồng nhất quyền vua (vương quyền) với quyền Trời (thần quyền). Vua cai trị theo mệnh Trời, do Trời giao phó – đó thật là một sách lược khôn ngoan, tác dụng của nó còn hơn cả lễ trị và pháp trị
Việc tiếp theo là loại bỏ cái hạt nhân dân chủ. Thay Ngũ luân với quan hệ hai chiều bình đẳng là “Tam cương” (vua tôi, cha con, vợ chồng) bằng quan hệ một chiều duy nhất (trung-hiếu-tiết-nghĩa), chỉ đòi hỏi trách nhiệm của kẻ dưới với người trên. Nó là cơ sở cho những công thức hết sức phi nhân bản: Quân sử thần sử, thần bất tử bất trung; Phụ sử tử vong, tử bất vong bất hiếu. Truyền thống xem thường phụ nữ của văn hóa gốc du mục may được thể chế hóa bằng trách nhiệm của vợ đối với chồng là phu xướng phụ tùy, và mở rộng ra thành trách nhiệm của phụ nữ đối với đàn ông nói chung là tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử.
Từ đời Hán về sau, vai trò của văn hóa cũng bị thu hẹp, nó chủ yếu chỉ giới hạn trong khuôn khổ những gì có lợi cho vương quyền. Kinh Thi được giải thích theo lối cao quý, tao nhã; nam nữ bị ngăn cách (nam nữ thụ thụ bất thân); con hát bị khinh rẻ là “xướng ca vô loài”
Như vậy, Nho giáo theo quan niệm của Khổng – Mạnh đúng là đã không còn nữa, thay vào đó là một thứ Nho giáo khác. Để phục vụ việc cai trị trong phạm vi quốc gia, bên cạnh cái nhân để lấy lòng dân, cần phải tăng liều lượng chất pháp luật của văn minh du mục. Nhiệm vụ này Hán Nho đã thực hiện một cách xuất sắc. Do vậy mà Nho giáo mới được nhà Hán và các triều đại về sau hết sức đề cao.
QUÁ TRÌNH THÂM NHẬP, PHÁT TRIỂN VÀ NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA NHO GIÁO TẠI VIỆT NAM
1. Quá trình thâm nhập và phát triển
Hán Nho đã được các quan lại trung Hoa như Tích Quang, Nhâm Diên, Sĩ Nhiếp ra sức truyền bá vào Việt Nam từ đầu Công nguyên. Tuy nhiên đây là thứ văn hóa do kẻ xâm lược áp đặt cho nên suốt cả giai đoạn chống Bắc thuộc, Nho giáo chưa có chỗ đứng trong xã hội Việt Nam. Đến năm 1070, với sự kiện Lý Thánh Tông cho lập Văn Miếu thờ Chu Công, Khổng Tử mới có thể xem là Nho giáo được tiếp nhận chính thức. Chính vì vậy mà Nho giáo ở Việt Nam chủ yếu là Tống Nho chứ không phải Hán Nho, Đường Nho hay Minh Nho, Thanh Nho.
Đời Trần, Chu Văn An đào tạo được khá đông học trò. Các nhà Nho những lớp đầu tiên này ra sức bài xích Phật giáo để khẳng định chỗ đứng của mình. Tuy nhiên cho đến gần cuối đời Trần, Nho giáo vẫn chưa được chấp nhận rộng rãi.
Trong cuộc kháng chiến 10 năm chống quân Minh, các nhà Nho Việt Nam tập hợp dưới cờ Lê Lợi đã có những đóng góp to lớn. Sự lớn mạnh của Nho giáo Việt Nam (điều kiện chủ quan) cùng với nhu cầu cải cách quản lý đất nước (điều kiện khách quan) đã dẫn đến việc triều Lê đưa Nho giáo thành quốc giáo. Sự phát triển của Nho giáo chuyển sang giai đoạn mới: Nho giáo độc tôn. Từ đó, Nho giáo thịnh suy theo bước thăng trầm của triều đình: Thời Lê sơ thì Nho giáo thịnh, chí sỹ đua nhau đi thi để ra làm việc nước. Thời Lê mạt thì Nho giáo suy, nhiều nhà Nho xuất sắc (như Nguyễn Bỉnh Khiêm) lui về ở ẩn. Nhà Nguyễn lên cầm đầu, địa vị Nho giáo một lần nữa lại được khẳng định để rồi mất hẳn khi phải đối mặt với văn hóa phương Tây.
Nét độc đáo của văn hóa Việt Nam là khi tiếp thu cái ngoại lai, nó tiếp nhận từng yếu tố riêng lẻ và Việt Nam hóa để rồi cấu tạo lại theo cách của mình. Nho giáo Việt Nam là một hệ thống như thế.
Nhà nước phong kiến Việt Nam chủ động tiếp nhận Nho giáo chính là để khai thác những yếu tố là thế mạnh của Nho giáo, thích hợp cho việc tổ chức và quản lý đất nước.
Trước hết, nhà nước quân chủ Việt Nam, đặc biệt là các triều Lê và Nguyễn, đã học tập rất nhiều ở cách thức tổ chức triều đình và hệ thống pháp luật của người Trung Hoa.
Thứ hai, hệ thống thi cử để tuyển chọn người tài bổ dụng vào bộ máy cai trị đã được triều đình phong kiến Việt Nam áp dụng ngay từ đầu triều Lý, hoàn thiện dần vào thời Trần và hoàn thiện vào thời Lê. Từ kỳ thi đầu tiên (năm 1075) đến kỳ thi cuối cùng của lịch sử khoa cử phong kiến (1919), trong vòng 844 năm có tất cả 185 khoa thi với 2.875 người đỗ, trong đó có 56 Trạng nguyên (nhà Nguyễn không lấy đỗ Trạng nguyên).
Thứ ba, khi mà chữ cổ đã mai một và mất hẳn, thì người Việt đã dùng chứ Hán (thường gọi là chữ Nho – chữ của Nho gia) làm văn tự chính thức trong văn tự hành chính. Trên cơ sở chữ Hán, từ cuối thời Bắc thuộc, người Việt đã tạo ra chữ Nôm (chữ của người Nam) dùng trong sáng tác văn chương. Thời Tây Sơn, vua Quang Trung Nguyễn Huệ đã mở rộng ra, sử dụng chữ Nôm cả trong lĩnh vực hành chính và giáo dục.
2. Đặc điểm của Nho giáo Việt Nam
Có nhiều yếu tố của Nho giáo khi vào Việt Nam đã bị biến đổi cho phù hợp với truyền thống của văn hóa dân tộc. Chữ nghĩa có thể vẫn thế, nhưng cách hiểu đã khác đi nhiều.
Xã hội các quốc gia cổ đại vùng Trung Nguyên, với gốc gác du mục của mình luôn đầy biến động. Bởi vậy, Nho giáo muốn tạo nên một xã hội ổn định. Tuy nhiên ở Trung Hoa, các triều đại phong kiến chỉ dùng Nho giáo để giữ yên ngai vàng (giữ ổn định trong đối nội), còn với bên ngoài thì luôn chủ trương bành trướng (phát triển trong đối ngoại). Đối với Việt Nam nông nghiệp, ước mong về một cuộc sống ổn định, không xáo trộn là một truyền thống lâu đời. Ở Việt Nam, nhu cầu duy trì sự ổn định không chỉ có ở dân mà ở cả triều đình, không chỉ trong đối nội mà cả trong đối ngoại. Các cuộc chiến tranh mà người Việt Nam từng thực hiện đều mang tính tự vệ, với phong kiến Trung Hoa cũng thế mà đối với người Chiêm Thành cũng thế.
Để duy trì sự ổn định, làng xã Việt Nam đã tạo nên sự lệ thuộc của cá nhân vào tập thể cộng đồng bằng cách phân biệt dân chính cư – dân ngụ cư, cộng đồng hóa lĩnh vực hôn nhân; sử dụng hữu hiệu bộ máy dư luận. Tương tự, muốn duy trì sự ổn định của quốc gia, nhà nước Nho giáo đã tạo ra sự phụ thuộc của bộ máy quan lại vào nhà cầm quyền bằng hai biện pháp:
a) Biện pháp kinh tế là “nhẹ lương nặng bổng”: Quan lại xưa sống không bằng lương mà chủ yếu bằng bổng do dưới nộp lên và lộc do trên ban xuống – cuộc sống được bao cấp theo lối ban ơn.
b) Biện pháp tinh thần là “trọng đức khinh tài”: Khai thác truyền thống trọng đức của văn hóa nông nghiệp (mà “đức” là khái niệm rất chủ quan, mập mờ), nhà nước Nho giáo buộc quan lại không thể hành động mà không tính đến dư luận.
Yếu tố quan trọng thứ hai là việc trọng tình người. Vì trọng tình vốn là truyền thống lâu đời của văn hóa phương Nam, cho nên khi tiếp nhận Nho giáo, người Việt Nam đã tâm đắc với chữ “Nhân” hơn cả. Nhân là lòng thương người: Bán mình là hiếu, cứu người là nhân (Truyện Kiều). “Nhân” gắn liền với “Nghĩa”: Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân” (Nguyễn Trãi). Đối với người bình dân, “nhân đồng nghĩa với “Tình”. Các chữ nhân tình, nhân ngãi (biến âm của nhân nghĩa), nhân duyên trong tiếng Việt đã trở lại nói về tình yêu trai gái. Khả năng đồng hóa Nho giáo một cách mãnh liệt thể hiện qua bài ca dao dí dỏm: Mình về ta chẳng cho về, Ta nắm vạt áo ta đề bài thơ, Bài thơ ba chữ rành rành: Chữ trung, chữ hiếu, chữ tình là ba, Chữ trung là để phần cha, Chữ hiếu phần mẹ, đôi ta chữ tình!
Trong Nho giáo Việt Nam, việc trọng tình được bổ sung bằng truyền thống dân chủ của văn hóa nông nghiệp (vốn có trong Nho giáo nguyên thủy, nhưng đến Hán Nho đã bị loại trừ). Chính nhờ tính dân chủ ấy mà khi Nho giáo Trung Hoa thâm nhập vào Việt Nam nó đã được “làm mềm” đi, không quá hà khắc. Nhờ truyền thống dân chủ ấy mà Nho giáo Việt Nam, dù có giữ vị trí độc tôn nhưng cũng không dám loại trừ Phật giáo và hủy bỏ cái gốc Việt Nam là đạo Mẫu. Tiếp thu chữ “hiếu” của Nho giáo, người Việt Nam đặt nó trong mối quan hệ bình đẳng với cả cha và mẹ: Công cha như núi Thái Sơn, Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra, Một lòng thờ mẹ kính ca, Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.
Thứ ba là tư tưởng “Trung quân”. Nho giáo rất coi trọng tư tưởng “trung quân” còn tư tưởng yêu nước thì không đề cập đến: quan lại Trung Hoa và võ sỹ Nhật Bản đều coi việc trung thành với “minh quân”, “minh chúa”, “Thiên Hoàng” làm trọng, sẵn sàng xả thân vì họ. Trong khi đó thì ở Việt Nam tiếp thu tư tưởng “trung quân” Nho giáo trên cơ sở tinh thần yêu nước và tinh thần dân tộc sẵn có, khiến cho cái trung quân đó đã bị biến đổi và gắn liền với ái quốc. Khi xuất hiện mâu thuẫn giữa vua và đất nước, dân tộc thì đất nước, dân tộc là cái quyết định.
Thứ tư là xu hướng trọng văn. Chính vì chịu ảnh hưởng của văn hóa nông nghiệp phương Nam nên Nho giáo nguyên thủy rất coi trọng văn, trọng kẻ sỹ. Tuy nhiên Trung Hoa có trọng thì quan văn cũng chỉ ngang hàng với quan võ. Ở các nhà nước Đông Nam Á, chữ Dũng vẫn được coi trọng nhưng ở những mức độ khác nhau: Trong quân đội Tưởng Giới Thạch, 5 đức tính được đề cao là Trí-Tín-Nhân-Dũng-Trực; trong quân đội Triều Tiên thời Silla thì đề cao Trung-Hiếu-Tín-Nhân-Dũng; còn trong quân đội Nhật thì ca ngợi Trung-Lễ-Dũng-Tín-Kiêm. Thứ bậc “sỹ-nông-công-thương”có ở cả Việt Nam và Nhật Bản, nhưng trong khi “sỹ” ở Việt Nam là văn sỹ thì ở Nhật Bản lại là võ sỹ. Ở Việt Nam, văn được coi trọng hơn hẳn võ: Tuy luôn phải đối phó với chiến tranh, nhưng người Việt Nam ít quan tâm đến các kỳ thi võ mà chỉ ham học chữ, thi văn: Một kho vàng không bằng một nang chữ. Người Việt Nam nhìn thấy ở Nho giáo một công cụ văn hóa, một con đường làm nên nghiệp lớn: Chẳng tham ruộng cả ao liền, Tham vì cái bút cái nghiên anh đồ; Anh về lo học chữ Nhu, Chín trăng em đợi, mười thu em chờ
Thứ năm là thái độ đối với nghề buôn. Nho giáo Trung Hoa khuyến khích làm giàu nếu nó không trái với lễ: “Phú quý mà có thể cầu được thì dù làm kẻ cầm roi đánh xe hầu người, ta cũng làm” (Luận ngữ). Làm giàu không chỉ nên, mà còn là trách nhiệm của người cai trị: Mạnh Tử từng bàn đến các vấn đề trao đổi hàng hóa, giá cả, chính sách thu thuế chợ, thuế đường…; ông nói: “người ta có hằng sản mới có hằng tâm”. Chính vì vậy mà ở Trung Hoa, Nho giáo không hề cản trở nghề buôn phát triển.
Trong khi đó thì ở Việt Nam với văn hóa nông nghiệp đậm nét, với tính cộng đồng và tính tự trị, lại có truyền thống khinh rẻ nghề buôn. Nó đã bám rễ vào suy nghĩ và tình cảm mỗi người, khiến cho nghề buôn trong lịch sử Việt Nam không thể phát triển được; nó còn được khái quát thành quan niệm mang tính chính thống: dĩ nông vi bản, dĩ thương vi mạt và đường lối trọng nông khinh thương. “Truyền thống” này khiến cho Việt Nam nông nghiệp vốn đã âm tính lại càng duy trì được sự ổn định lâu dài, tránh mọi nguy cơ đồng hóa.
Sở dĩ Nho giáo được Việt Nam dỡ ra, cải biến cho phù hợp với hoàn cảnh và truyền thống của mình, rồi cấu trúc lại một cách tài tình như thế là vì giữa Nho giáo Trung Hoa và văn hóa Việt Nam vốn có những nét tương đồng. Những nét tương đồng đó không phải là ngẫu nhiên. Đó không phải là cái gì khác mà chính là những tinh hoa của nền văn hóa nông nghiệp phương Nam mà Nho giáo nguyên thủy đã tiếp thu. Thành ra, khi vào Việt Nam, Nho giáo luôn phảng phất cái nét “vừa quen vừa lạ” rất đặc biệt.
Cuộc Sống Việt _ Theo Cơ sở Văn hóa Việt Nam (PGS. Trần Ngọc Thêm, 1999)
Mời xem tiếp :
- Nho giáo - [ KHONGTU.COM ]
- Nho giáo – Wikipedia tiếng Việt
- Một số thông tin về Nho Giáo
- Nghiên cứu nho giáo Việt Nam trong bối cảnh khu vực và thời đại
- Tư tưởng nho giáo về gia đình và việc xây dựng gia đình mới ở Việt Nam
- [Eastern Culture] Nho giáo - Confucianism
- Khổng Tử – Wikipedia tiếng Việt
- “Nhân” trong luận ngữ của Khổng Tử
- Khổng Tử trong mắt người Trung Quốc
|