|
Nghề chạm gỗ La Xuyên
Cách Hà Nội khoảng hơn 70km, làng chạm khắc gỗ La Xuyên, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định là một trong những làng nghề cổ, nổi tiếng với những sản phẩm chạm khắc tinh xảo và tính mỹ thuật cao.
Qua các câu chuyện kể và một số ít ghi chép còn lại liên quan đến làng nghề chạm khắc gỗ La Xuyên, chúng ta được biết rằng làng nghề ở đây có lẽ đã ra đời vào khoảng thế kỷ X – XI, thời kỳ nhà tiền Lê (vua Lê Đại Hành). Sử liệu còn cho biết thêm, vào thời nhà Đinh nghề mộc trở nên được trọng dụng, nhằm phục vụ cho việc trang trí nội ngoại thất cho các lầu đài, cung điện. Trong số những thợ giỏi thời ấy có ông Ninh Hữu Hưng (936 - 1020), quê ở xã Chi Phong, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình. Ông là người có tài và chí lớn, từng góp công lớn trong việc dẹp loạn 12 sứ quân. Ông cũng là người khéo léo vận dụng thuật ngũ hành trong việc tạo lửa từ que gỗ và bài học này đã được phổ biến trong quân vào thời kỳ đó. Bằng tài năng của mình, ông đã được vua Đinh Tiên Hoàng ban chức Công tượng lục phủ Giám sát tướng quân. Đến thời nhà Tiền Lê, ông vẫn rất được trọng dụng và luôn được chọn vào đội xa giá mỗi khi vua xuất cung. Vùng đất Cái Nành, (tức làng La Xuyên ngày nay) là nơi ông được vua ban cho để mở mang làng nghề (cho đến trước thế kỷ X, nghề chạm khắc gỗ vẫn chưa được xem trọng). Từ đó, làng nghề không ngừng phát triển và mang đến cho mọi người những sản phẩm cực kỳ sắc sảo, tinh tế, nổi tiếng khắp vùng. Cho đến ngày nay, sức lao động và sáng tạo của bao thế hệ thợ chạm khắc gỗ La Xuyên vẫn còn lưu giữ nơi chốn thâm nghiêm của đình, đền, phủ, miếu hay những vật dụng trang trí gia đình như hương án, bát biểu, tượng, cửa, võng, sập gụ, tủ chè… đặc biệt là sập gụ và tủ chè (trà) – hai sản vật được xem là đặc trưng nhất, không nơi nào có thể sánh bằng làng nghề La Xuyên (được gọi là đồ rắn). Đây chính là sự tiếp nối của dòng nghệ thuật điêu khắc trong trang trí đình – làng, chế tác đồ thờ tự nổi tiếng từ lâu đời với tên gọi hàng màu. Những hoa văn trang trí trên bề mặt hai sản phẩm này thường thể hiện hình ảnh Bát tiên quá hải, Văn vương cầu hiền, Tam cố thảo lư, bộ ba Phúc - Lộc - Thọ, mai điểu, trúc tước…
Để tạo nên một sản phẩm vừa bền chắc vừa mang tính mỹ thuật cao, người thợ khắc làng La Xuyên phải thực hiện khá nhiều công đoạn từ việc chọn cây gỗ tốt, rắn chắc đến tạo dáng, đục thủng, đục vỡ, đục tuông, gọt, nạo, tỉa tách và đánh bóng… Bí quyết có tính gia truyền của làng nghề làng La Xuyên chính là việc ghép mộng, tạo dáng và đánh bóng. Nếu đồ chạm mộc mang đến cho người thưởng thức cảm giác về một dáng vẻ thâm trầm của những họa tiết, hoa văn mang đậm cốt cách văn hóa phương đông như cúc, trúc, long – lân – quy – phụng, thì đồ khảm xà cừ (trai, ốc) lại mang đến cho sản phẩm chạm của làng La Xuyên một dáng vẻ thanh thoát, tao nhã và lung linh. Điều đó như càng tôn thêm cho vẻ đẹp ngàn năm của làng nghề thủ công truyền thống La Xuyên, được dày công vun đắp bởi bao thế hệ thợ yêu nghề, đã và đang gìn giữ, bảo tồn các giá trị tinh hoa của làng nghề và cũng là nét đẹp văn hóa của quê hương. Ngày nay, nếu có dịp đến thăm vùng đất Nam Định, du khách sẽ được tham quan những di tích thời nhà Trần, những ngôi chùa cổ phủ rêu phong và cũng đừng quên cơ hội ghé thăm làng nghề La Xuyên để thưởng thức qua tài nghệ và thán phục trước sức sáng tạo, sự thăng hoa nghệ thuật bởi những hình tượng mềm mại, uyển chuyển nhưng đầy khí chất mạnh mẽ đang được khắc họa bởi những bàn tay vàng của làng khắc gỗ La Xuyên.
vietbao.vn
>> Nghề chạm gỗ La Xuyên
Nón lá Nghĩa Châu - Nam Định
"Chiếc nón Nghĩa Châu
Che mưa che nắng
Ai mang trên đầu
Để nhớ thương nhau…”
Xã Nghĩa Châu (Nghĩa Hưng) từ lâu đã nổi tiếng với nghề làm nón lá truyền thống. Hình ảnh các bà, các chị túm năm tụm ba bên gốc tre làng chuyện trò vui vẻ, tay thoăn thoắt khâu nón… Rồi cảnh chợ Đào Khê náo nhiệt, đông vui với la liệt những lá nón, mo tre, vành nón, búi cước, len đủ màu và những chồng nón trắng lấp loá dưới nắng… Tất cả đẹp như một bức tranh quê.
Để tạo ra những chiếc nón thanh thoát, bền đẹp… ngoài sự khoé léo của đôi tay, người làm nón phải thật sự tài hoa và có óc thẩm mỹ cao. Lá nón mua về được tãi ra phơi nắng, hấp diêm sinh để lá có độ trắng ngà, không bị mốc khi gặp mưa. Xong công đoạn đó, người thợ đặt từng lá nón lên mặt lưỡi cày nung nóng, dùng búi giẻ vuốt cho lá phẳng ra, tay vuốt đều, không được nhanh quá hoặc chậm quá để tránh cho lá bị xém, ngả màu vàng hoặc không phẳng. Những lá nón làm xong được xếp lên khuôn, giữa 2 lớp lá lót một lượt mo nang lạng thật mỏng và được buộc cho chắc; sau đó tới công đoạn khâu. Những bàn tay thoăn thoắt luồn mũi kim lên, xuống đều đặn, nhịp nhàng sao cho lỗ khâu thật khít. Người thợ khâu nón tài hoa thường có tài lẩn chỉ, khéo léo giấu những nút nối vào trong. Chiếc nón khi hoàn chỉnh vừa bền, vừa đẹp, soi lên trước ánh sáng mặt trời thấy kín đều. Nón được trang trí thêm hình hoa lá, chim muông phong phú, sinh động, phù hợp với thị hiếu thẩm mỹ của các thiếu nữ nông thôn. Nếu là nón cưới, phần trang trí nhất thiết phải có đôi chim câu ngậm dải lụa đào tượng trưng cho hạnh phúc lứa đôi.
Cuộc sống hiện đại ngày nay càng xuất hiện nhiều loại mũ, nón đa dạng về màu sắc, kiểu dáng, chất lượng nhưng nón lá vẫn gần gũi với mọi người, đặc biệt là với các thiếu nữ nông thôn. Chiếc nón còn là vật kỷ niệm, đồ trang sức, có mặt trong những điệu múa nón uyển chuyển, nhịp nhàng cùng với áo dài tạo nét duyên dáng đặc biệt cho các thiếu nữ Việt Nam.
>> Nón lá Nghĩa Châu
Làng nghề “phôi” cây cảnh
Thì ra nghề làm cây cảnh bây giờ đã khác hẳn trước. Chúng tôi phát hiện ra điều đó khi "du lịch" một vòng trong làng Cồn Tròn thuộc xã Hải Hòa ( Hải Hậu , Nam Định).
Thay vì chủ nhân của mỗi cây cảnh phải gây dựng từ đầu: Ươm cây, vào chậu, uốn, tỉa, tạo thế... nghĩa là từ A đến Z. Để tạo được một cây thế, có khi mất cả chục năm trời như trước thì bây giờ, cái công việc đầy tính nghệ thuật này đã được "dịch vụ hóa", tức là được chia thành nhiều công đoạn khác nhau, do từng người một đảm nhiệm. Hải Hòa là nơi chuyên bán các "phôi" cây cảnh cho các nhà tạo cây thế không chỉ ở Nam Định mà còn bán ra cả tỉnh ngoài... Tuy là một trong những xã nằm ven biển Hải Hậu, giáp với Thịnh Long, Hải Triều, Hải Lý... nhưng thay vì đi biển hay làm muối như các xã trên thì dân Hải Hòa mấy năm nay lại chuyển sang làm phôi cây cảnh nhiều hơn. Và nghề này xem ra có phần lại ổn định hơn nghề biển.
Hải Hòa bây giờ có hàng trăm vườn phôi cây cảnh. Hầu như cả làng không còn chỗ đất nào trống. Ngoài vườn, người ta còn tôn cả ruộng lên để trồng phôi cây nữa. Hàng ngày, không ít người làng tỏa đi khắp nơi lùng cây. Thường là họ mua được với giá rất rẻ. Nhớ có lần về chơi nhà người bạn ở xã Mỹ Trung (Mỹ Lộc, Nam Định), chúng tôi thấy bên đống rơm nhà anh có một gốc lộc vừng to hơn bắp đùi người lớn, cao khoảng trên một mét, cành lá rườm rà. Bà mẹ cho biết, cái cây đó không biết mọc từ bao giờ ở bờ ao, đang định nhờ anh con trai chặt đi, phơi nỏ làm củi đun thì có người đến hỏi mua, trả ba mươi ngàn. Bà mừng quá bán luôn. Họ đã đào lên nhưng hẹn hôm sau mới đến chở. Cây lộc vừng có dáng khá đẹp, chỉ hơi thấp so với cây lộc vừng của ông Cảnh Hưng chuyên cây cảnh, hòn non bộ ở thị xã Phủ Lý (Hà ) nhưng gốc thì to hơn. Cây lộc vừng cao khoảng hơn 2 mét, trồng trong chậu lớn màu chu sa đó, cách đây mấy năm đã được ông Cảnh Hưng bán cho một công ty ở Hải Phòng với giá... 11 triệu đồng. Cây lộc vừng nhà bạn tôi, vào tay một nhà trồng phôi cây cảnh ở Hải Hòa, rồi từ Hải Hòa đến một chủ cây cảnh ở Điền hay Vị Khê chẳng hạn, có khi tiền triệu chưa biết chừng. Và qua bàn tay ghép, uốn, tạo thế của những nhà tạo cây thế chuyên nghiệp kia, không biết nó sẽ thành bao nhiêu triệu...
Nghề trồng phôi cây cảnh, tuy vậy, cũng không phải dễ, tốn không ít công phu. Giá của một cây phôi, tùy theo loại cây, tùy độ lớn hay mức độ đẹp xấu, có giá từ vài trăm ngàn đến dăm trăm ngàn. Cá biệt có cây có giá cả triệu. Để có một vườn cây phôi đẹp, hàng chạy, thường người làm phôi cũng phải có "con mắt nghề nghiệp", tức là phải am tường các thế cây không kém bao nhiêu so với một nhà tạo cây thế chuyên nghiệp. Nhìn một cái cây, dù là cây mọc hoang hay ở bờ giậu, bờ ao nhà người, cũng phải biết được cây có thế gì, hay cây đó dễ uốn, ghép được thành thế gì. Mua được cây rồi, về trồng trong vườn, cũng phải biết tùy từng loại cây mà "thúc" cho cây lớn nhanh hay "hãm" cho cây chậm lại. Với các loại sanh, si, sung... cây lớn quá rất khó bán. Trái lại một số loài khác như lộc vừng, đa... cây nhỏ quá không chạy. Với cây cằn quá, phải chăm cho lá cành mỡ màng lên. Trái lại một cây vổng quá, cần có nghệ thuật làm cho cây săn chắc lại. Gốc cây nhỏ, nhẵn, phải làm cho gốc phát triển to, xù xì ra, thúc cho mầm cây mọc lên từ gốc. Với một số cây khác, ngoài thân chính còn phải biết cách tạo thân phụ.
Anh Bảo kể có lần mua được một cây sung khá đẹp. Trồng trong vườn được hơn năm, anh đã định bán lấy ba trăm ngàn. Nhưng khi khách chuẩn bị đào, anh chợt phát hiện da ở gốc cây như vừa nhô lên một chút. Thế là anh không bán nữa, để lại chăm sóc tiếp. Quả nhiên mấy ngày sau từ hai chỗ nhú lên như hai cái đầu đinh ấy nẩy ra hai cái mầm. Anh mừng lắm, ra sức chăm chút cho đôi mầm ấy, vì anh biết với hai cái mầm đó, người tạo thế có thể biến cây sung đơn thành một cây sung "phụ tử". Gần một năm sau, cây sung phôi của anh có giá gấp đôi... Cơn bão số 7 năm 2005, Hải Hòa là một trong những xã bị nước mặn tràn vào, một số vườn cây phôi bị tàn phá, nhưng chỉ mấy tháng sau, màu xanh đã lại phủ kín những vườn đó, và mỗi ngày, hàng chục xe công nông, xe tải nhỏ chở đầy cây lại từ đây chạy đến hàng chục địa phương khác, chứng tỏ người dân ở đây đã đầu tư vào chúng thế nào bởi chúng đang trở thành nguồn thu nhập chính cho hàng trăm gia đình.
>> Làng nghề "phôi" cây cảnh
Làng nghề khảm trai Ninh Xá
Ông tổ nghề của làng chạm khắc gỗ, khảm trai Ninh Xá, xã Yên Ninh, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định là Lão La Đại Thần. Tên thật của cụ là Ninh Hữu Hưng.
Cụ là tướng đặc biệt - tướng xây dựng, tướng hậu cần của vua Đinh, vua Lê. Cụ đã giúp triều đình dẹp loạn 12 sứ quân, đánh đuổi giặc Tống sâm lược, xây dựng cố đô Hoa Lư. Ứng dụng quy luật mộc sinh hoả - cụ đã phổ biến cách dùi cây lấy lửa cho binh lính trong hành quân, tiến quân hay phòng ngự, vẫn tự làm ra lửa để nấu nướng, làm lửa hiệu, đánh giặc. Về già cụ Ninh Hữu Hưng còn giúp dân bốn làng Ninh Xá, La Ngạn, Khả Lũ, Trịnh Khiết học nghề chạm khắc gử, khảm trai. Vua Lê Đại Hành (Lê Hoàn) phong cụ Ninh Hữu Hưng là “Công tượng lục phù giám sát Đại tướng quân”. Còn dân làng Ninh Xá và ba làng nói trên, suy tôn cụ là Thành hoàng, là ông tổ nghề.
Gần mười thế kỷ qua, từ nơi đây đã có rất nhiều nghệ nhân đến xây dựng cố đô Hoa Lư, kinh đô Thăng Long, Đông Đô, Huế và nhiều đình, đền, chùa, miếu, lăng, phủ ở mọi miền đất nước. Ngày nay dân làng vẫn ăn nên, làm ra, ấm no hạnh phúc nhờ nghề truyền thống chạm khắc gử, khảm trai của mình. Sập gụ, tủ chè của làng nổi tiếng khắp cả nước và nước ngoài, về độ bền, vẻ đẹp của các hoa văn, mảng khối, đường nét, gợi chất thơ từ nhiều điển tích cổ Phương Đông.
Uống nước nhớ nguồn, hưởng bóng mát nhớ cây cao, dân làng Ninh Xá đã nhiều năm sưu tầm, chỉnh lý, bổ xung tư liệu về tổ nghề. Họ đã góp nhiều tiền, của để tu bổ, tôn tạo đền thờ tổ nghề. Đền thờ có đôi câu đối ca ngợi cụ Ninh Hữu Hưng:
“Mộc tượng giáo dân nguyên hữu ý
Kiến đô lập quốc sử lưu công”
Đền thờ được Bộ Văn hoá cấp bằng bằng công nhận Di tích lịch sử văn hóa năm 1991.
Hàng năm dân làng vẫn tổ chức lễ hội mùa xuân vào ngày 6-3 Âm lịch. Đặc biệt, họ đã tiến hành nghi thức “Kéo lửa để Khai Hội”. Sau hồi trống trang trọng, tưng bừng, một vị cao niên phát lệnh cho trai làng, kéo lạt giang cọ vào thanh gử xoan ngâm, tạo nhiệt. Nhiệt truyền rồi làm cháy bùi nhùi rơm khô. Cụ già lấy ngọn lửa vừa phát sinh thắp hương cho cả làng làm lễ dâng hương. Sau đó chuyển bát hương lên kiệu rước.
Bằng nghi thức “Kéo lửa Khai hội” nói trên, dân làng thành tâm tưởng nhớ đến sáng kiến tạo ra lửa của cụ tổ nghề Ninh Hữu Hưng, thủa xa xưa, giúp vua Đinh, vua Lê nuôi quân, đánh giặc, dẹp loạn, xây dựng. Họ cũng tôn vinh nghề truyền thống. Từ gử họ sẽ làm ra những mặt hàng thủ công mỹ nghệ như ngọn lửa mãi mãi cần thiết cho đời sống của con người. Nghi thức kéo lửa Khai Hội còn thắp lên niềm tin sâu xa vào Hạnh phúc Trường sinh của làng nghề Ninh Xá.
>> Làng nghề khảm trai Ninh Xá
Nghề dệt vải lụa truyền thống
Hầu như vùng nào của Nam Định cũng có nghề dệt. Sách Đại Nam nhất thống chí chép về tỉnh Nam Định: “Trong toàn hạt sĩ nông có nhiều mà công thương cũng nhiều. Phụ nữ làm nghề chăn tằm dệt vải”. Dệt có nhiều loại: dệt lụa, dệt vải, dệt chiếu...

Dệt lụa gắn liền với nghề trồng dâu nuôi tằm. Như đã đề cập vùng đất Nam Định phù hợp với cây dâu, thuận lợi cho việc phát triển nghề trồng dâu nuôi tằm cung cấp nguyên liệu cho nghề dệt lụa.
Dệt vải gắn với nghề trồng bông. Theo tài liệu giữa thế kỷ XIX, Nam Định cùng với Hưng Yên là hai địa phương có nghề trồng bông phát triển. Bông chủ yếu cung cấp cho nghề dệt vải, ngoài ra còn cung cấp nguyên liệu cho nghề ép dầu nam dùng thắp sáng.
Vùng Quần Anh (Hải Hậu) xưa có nghề dệt lụa nổi tiếng. Lụa Quần Anh đẹp nổi tiếng, đã trở thành quen thuộc với cư dân vùng duyên hải, và nói chung cả tỉnh Nam Định. Trong sách Quần Phương nông tuế khảo soạn vào đầu thế kỷ XX, Trần Duy Vôn cho biết: “Phụ nữ Quần Phương không quen nghề làm ruộng như cầy, bừa, gặt hái khó nhọc, chỉ biết tới mùa thì vò đạp, rê sẩy thôi, nên nhiều người làm nghề dệt lụa”. Người dân nơi đây rất có kinh nghiệm trong việc nuôi tằm.
Ngoài vùng Quần Anh, nghề trồng dâu nuôi tằm dệt lụa còn có ở các làng Thuận An, Ngọc Cục (thuộc tổng Hành Thiện), Lạc Nghiệp (thuộc tổng Trà Lũ) huyện Giao Thủy, nay đều thuộc huyện Xuân Trường...Hay chuyện về ươm tơ như thôn Đông Thượng, xã Bách Tính, xã Quy Phú (đều thuộc tổng Cổ Nông), nay thuộc huyện Nam Trực.
Cuối thế kỷ XIX, trên cơ sở nghề trồng bông dệt vải truyền thống, đặc biệt là khả năng cung cấp nguyên liệu của Nam Định và các tỉnh lân cận, thực dân Pháp đã cho xây dựng tại thành phố Nam Định nhà máy dệt sớm nhất Bắc Kỳ, rồi dần dần phát triển thành trung tâm dệt lớn nhất miền Bắc./.
(Nguồn Địa chí Nam Định)
Làng sơn mài Cát Đằng
Nói đến làng quê từng có sản phẩm sơn mài nổi tiếng nhất miền Bắc phải nói đến làng quê sơn mài Cát Đằng ở xã Yên Tiến (huyện Ý Yên, Nam Định) - một làng nghề có bề dày lịch sử rất lâu đời. Người ta nói rằng, các đồ sơn mài vẫn dùng để trang trí nội, ngoại thất trong các lăng tẩm, các cung đình xưa ở Huế, Đà Nẵng, Hà Nội… chủ yếu là do bàn tay tài hoa của các nghệ nhân làng Cát Đằng làm ra.
 |
Cát Đằng nằm trên vùng đất kẹp giữa hai trục đường bộ và đường sắt xuyên Việt. Theo sử sách ghi lại, nghề sơn mài làng Cát Đằng có từ khoảng thể kỷ 11, do hai ông tên là Ngô Dũng và Đinh Ba (từng làm quan trong triều thời vua Đinh) đến làng ở và truyền dạy nghề cho trai tráng trong làng. Ngày giỗ ông Tổ nghề được tổ chức linh đình vào rằm tháng giêng hàng năm. Cũng như các làng quê Việt Nam khác, Cát Đằng cũng đã trải qua bao thăng trầm của lịch sử, nhưng nghề sơn mài ở đây vẫn được gìn giữ và ngày một phát triển. Trước đây, người ta vẫn thấy hàng sơn mài chỉ được làm trên những tấm gỗ đã được chọn lựa rất kỹ, thì nay, người Cát Đằng đã sáng tạo thêm những sản phẩm từ việc chắp nứa rồi đem sơn mài. So với gỗ, loại mặt hàng này vừa nhẹ, giá rẻ hơn, chất lượng đảm bảo, thu hút được nhiều khách hàng và chủ yếu để xuất khẩu đi nhiều nước trên thế giới.
Tất nhiên, để có được sản phẩm chắp nứa sơn mài sớm "nổi danh" như thế cũng không phải đơn giản. Ngay từ việc chọn mua nứa, người thợ cũng phải chọn những cây nứa bánh tẻ, không quá non cũng không quá già. Khi đem về phải mang ngâm dưới nước ít nhất là 6 tháng để sản phẩm sau này không bị mối mọt, có độ bền lâu. Sau đó, đến khâu pha nứa, pha nan, vót và đánh bóng nan rồi người ta để nghiêng nan cẩn thận uốn chặt theo hình khuôn, rồi quết một lớp keo được pha chế bằng tạp chất sao cho không còn kẽ hở giữa các vòng nứa rồi mới đem mài miết đến khi sản phẩm nhẵn bóng và đạt được độ mỏng cần thiết mới thôi. Trước đây, riêng khâu mài phải làm bằng thủ công, thường mất ít nhất 3 tháng mới xong một sản phẩm như bình hoa, chậu cảnh, còn bây giờ đã có máy móc hiện đại, nên chỉ mất vài ba ngày hoặc một tuần là xong. Đặc biệt không được dùng nan cật, vì sản phẩm sẽ không đảm bảo độ bền, dẻo vốn có. Đến đây coi như khâu sơ chế thô đã hoàn thành. Những sản phẩm ấy tiếp tục được chuyển đến tay các nghệ nhân trang trí thêm đủ kiểu hoa văn cách điệu, pha màu rồi phun sơn thật đều lên sản phẩm. Theo như nhiều nghệ nhân trong làng, thì khâu pha chế và phun sơn là khó nhất. Bí quyết của làng nghề cũng được giữ kín ở đây, nếu không phải là trai làng thì không được truyền dạy. Đã có nhiều người ở nơi khác đến Cát Đằng học nghề nhưng họ vẫn không thể biết bí quyết pha trộn sơn, hay sản phẩm vừa được phun sơn bỗng gặp trời mưa thì phải xử lý thế nào để sơn không bị bay mất màu, đành phải chờ nắng rồi đem sơn lại, còn người Cát Đằng lại có thể giữ nguyên màu sơn ở bất cứ thời điểm hay hoàn cảnh nào. Nhiều nghệ nhân của làng đã ra các tỉnh ngoài để làm và mở các lớp dạy nghề sơn mài ở khắp nơi. Dù đi đâu, họ cũng sớm khẳng định sự tài hoa, khéo léo của nghệ nhân Cát Đằng.
|