|
Đế quốc Mông Cổ (tiếng Mông Cổ: Их Монгол Улс, có nghĩa là "Đại (Их) Mông Cổ (Монгол) Quốc (Улс)") (1206–1405) là một đế quốc có diện tích đất trong lịch sử thế giới với thời điểm cực thịnh có lãnh thổ lên đến 33 triệu km² và số dân lên đến 100 triệu người và là đế quốc cường thịnh nhất trong các đế quốc thời Trung Cổ.
Đế quốc Mông Cổ được Thành Cát Tư Hãn thành lập năm 1206 sau khi thống nhất các bộ lạc Turk-Mông Cổ và sau đó bành trướng sang đại lục Á-Âu, khởi đầu bằng việc xâm lược Tây Hạ ở phía bắc Trung Quốc và đế quốc Khwarezm (Hoa Thích Tử Mô) ở Ba Tư. Vào thời kỳ cực thịnh của nó, Hòa bình Mông Cổ (con đường tơ lụa thuộc đế quốc Mông Cổ) đã tạo điều kiện cho giao lưu văn hóa và mậu dịch giữa phương Đông và phương Tây trong thời kỳ thế kỷ 13 - thế kỷ 14.
Đế quốc Mông Cổ do Đại Hãn cai trị. Sau khi Thành Cát Tư Hãn mất, đế quốc này bị chia thành 4 phần, bao gồm nhà Nguyên, hãn quốc Y Nhi (Il), hãn quốc Sát Hợp Đài (Chagatai) và hãn quốc Kim Trướng), mỗi vùng do một hãn cai trị.

Theo các tính toán của phương Tây, nhà sử học R. J. Rummel ước tính rằng 30 triệu người bị giết dưới sự cai trị của đế quốc Mông Cổ và dân số của Trung Hoa lúc đó giảm xuống một nửa trong vòng 50 năm dưới sự cai trị của đế quốc Mông Cổ. David Nicole đã viết trong tác phẩm Các lãnh chúa Mông Cổ (The Mongol Warlords) rằng "nỗi khiếp đảm do khủng bố và hủy diệt hàng loạt bất kể kẻ nào chống lại họ là một chiến thuật được kiểm nghiệm có kết quả"
Một trong những sách lược quân sự được người Mông Cổ áp dụng là làm cỏ những cư dân thành thị từ chối đầu hàng; trong Cuộc xâm lược tại Kiev, hầu như các thành phố lớn đều bị phá hủy; nhưng nếu cư dân ở đâu chịu phục tùng thì được tha thứ và đối xử một cách khoan dung. Cùng với các chiến thuật đe dọa, việc bành trướng nhanh chóng của Đế quốc này có điều kiện thuận lợi do khả năng bền bỉ chịu đựng của đội quân Mông Cổ (đặc biệt trong điều kiện mùa đông giá rét), kỹ năng chiến đấu, chế độ trọng nhân tài và tính kỷ luật.
Tốc Bất Đài (Subotai) là một trong những chỉ huy của quân Mông Cổ coi mùa đông là thời gian tốt nhất để tiến hành chiến tranh. Trong khi những người có sức chịu đựng lại trú đông thì người Mông Cổ lại có khả năng sử dụng những hồ và sông đóng băng để làm đường đi cho những kỵ binh của mình, đây là một chiến thuật mà Tốc Bất Đài sử dụng với hiệu quả lớn ở Nga.
Đế quốc Mông Cổ có các vùng đất rộng lớn thống nhất và ảnh hưởng lâu dài, một trong những vùng đó (như đông và tây nước Nga và một số vùng miền tây Trung Hoa) vẫn còn thống nhất cho đến ngày nay dù đã trải qua nhiều chế độ cai trị khác nhau. Người Mông Cổ đã bị đồng hóa vào các dân tộc địa phương sau khi Đế quốc Mông Cổ sụp đổ và nhiều người trong số họ đã theo các tôn giáo bản địa như các hãn quốc ở phía tây theo Hồi giáo, phần lớn chịu ảnh hưởng của Sufi. Trên thực tế, sự đấu đá nội bộ và sự yếu kém trong cai trị là một trong những nguyên nhân chính cho sự sụp đổ của đế chế này

Vào thời điểm Thành Cát Tư Hãn mất năm 1227, đế quốc này được chia cho 4 con trai của ông với người con trai thứ 4 là đại hãn, và đến những năm 1350, các triều Hãn rạn nứt và đánh mất trật tự mà Thành Cát Tư Hãn đã mang lại. Cuối cùng, các triều Hãn xa rời nhau, trở thành triều đại Y Nhi ở Ba Tư, triều Chagatai ở Trung Á, triều Nguyên ở Trung Quốc, và cái mà sau này trở thành Kim Trướng hãn quốc ở địa phận nước Nga ngày nay.
SỰ THIẾT LẬP ĐẾ CHẾ
Thiết Mộc Chân, sau này được biết đến với cái tên nổi tiếng hơn là Thành Cát Tư Hãn, là người đã lập ra đế quốc Mông Cổ. Ông là con trai Dã Tốc Cai, vị thủ lĩnh của bộ lạc Ki Dát — một trong số những bộ lạc phân bố rải rác trên lãnh thổ Mông Cổ, trên danh nghĩa dưới quyền kiểm soát của nhà Kim lúc ấy. Cha ông bị một bộ tộc đối nghịch giết khi còn trẻ. Việc này khiến cho Tang Côn định giết Thiết Mộc Chân để giành quyền lực. Tuy nhiên Thiết Mộc Chân đã biết trước âm mưu này khiến nổ ra một trận nội chiến lớn bên trong những người Mông Cổ. Cuối cùng, Thiết Mộc Chân đánh bại Tang Côn lên nắm tước vị Vương Hãn. Thiết Mộc Chân đã lập ra một bộ văn bản luật cho người Mông Cổ được gọi là Yassa, và ông buộc mọi người phải tuân thủ nghiêm túc.

Tiếp đó, Thiết Mộc Chân tấn công các bộ tộc xung quanh, nắm thêm quyền lực. Bằng cách phối hợp cả ngoại giao, tổ chức, khả năng quân sự và sự tàn bạo, Thiết Mộc Chân cuối cùng đã thống nhất được tất cả các bộ lạc thành một quốc gia duy nhất, một chiến công mang tính biểu tượng của người Mông Cổ, vốn đã có một lịch sử huynh đệ tương tàn lâu dài. Năm 1206, Thiết Mộc Chân đã thống nhất toàn bộ các bộ lạc phân tán trước đó để tạo thành nước Mông Cổ. Tại một Khurultai (một hội đồng thủ lĩnh Mông Cổ), ông được trao tên hiệu "Thành Cát Tư Hãn", hay "Vua cai trị tối cao". Sự khai sinh nước Mông Cổ đánh dấu bước khởi đầu của một đế chế không ngừng mở rộng trong lịch sử, chiếm những vùng đất lớn ở châu Á, Trung Đông và nhiều phần châu Âu, trong hai thế kỷ sau đó. Trong khi đế chế của mình mở rộng về mọi hướng, mục tiêu chính của Thành Cát Tư Hãn luôn là Trung Quốc, đặc biệt Tây Hạ, nhà Kim và triều Nam Tống.

Quân đội Mông Cổ có tổ chức đơn giản nhưng hiệu lực. Nó dựa trên một truyền thống cổ của thảo nguyên, đó là một hệ thống thập phân đã được biết đến trong các nền văn hóa Iran từ thời Ba Tư Achaemenid. Quân đội được tổ chức từ các đội 10 người, được gọi là một arban; 10 arban lập thành một đại đội 100 người, gọi là một jaghun; 10 jaghun lập thành một trung đoàn một ngàn người gọi là mingghan, và 10 mingghan tạo thành một lực lượng 10 ngàn người, tương đương với 1 sư đoàn hiện đại.
Trong một trận đánh, quân Mông Cổ sử dụng sự hợp đồng tác chiến chặt chẽ giữa các cánh quân. Tuy họ nổi tiếng với kị binh bắn cung, các lực lượng dùng giáo của họ cũng thiện chiến không kém và cũng góp phần quan trọng cho thành công.
Không như những chiến binh cơ động khác như Hung Nô/Người Hung hay người Viking, người Mông Cổ rất thành thạo trong nghệ thuật bao vây. Họ cẩn thận tuyển mộ các thợ thủ công và người tài trong lĩnh vực quân sự từ các thành phố chiếm được, cùng với một nhóm công binh và pháo thủ Trung Quốc, họ là các chuyên gia trong việc xây dựng máy bắn đá (trebuchet), máy lăng đá (catapult) và các máy móc khác để dùng cho việc bao vây các vị trí được phòng thủ. Các máy móc này đã được sử dụng hiệu quả trong các chiến dịch châu Âu của tướng Subutai. Các vũ khí này có thể được xây dựng ngay tại chỗ bằng các vật liệu sẵn có như cây cối gần đó. Bên cạnh đó, hỏa tiễn cũng được sử dụng để làm rối loạn đội hình đối phương, dùng khói để cô lập các bộ phận của đối phương trong khi tiêu diệt các lực lượng này

Kỉ luật quân đội là điều tạo nên sự khác biệt giữa quân Mông Cổ và các đội quân khác. Quân Mông Cổ được huấn luyện, tổ chức, và trang bị cho mục tiêu tốc độ và tính cơ động. Để làm tối đa tính cơ động, binh sĩ Mông Cổ được trang bị giáp tương đối nhẹ so với nhiều đội quân mà họ đối đầu. Ngoài ra, việc binh sĩ Mông Cổ hoạt động độc lập với các tuyến hậu cần đã làm tăng đáng kể tốc độ di chuyển của quân đội. Kỉ luật được huấn luyện theo truyền thống săn bắn cổ với các nhóm nhỏ, trong đó các chiến binh trải rộng theo tuyến, bao vây toàn bộ khu vực. Mục tiêu là để không cho phép một con thú nào trốn thoát và để giết sạch chúng.
Tất cả các chiến dịch quân sự đều được chuẩn bị cẩn trọng trong việc lập kế hoạch, trinh sát, thu thập các thông tin nhạy cảm liên quan đến các vùng lãnh thổ và lực lượng của đối phương. Thành công, tổ chức và tính cơ động của quân Mông Cổ cho phép họ đánh cùng lúc nhiều mặt trận. Tất cả nam giới tuổi từ 15 đến 60 và có khả năng tham gia sự huấn luyện khắc nghiệt đều thuộc diện có thể đăng lính, một vinh dự trong truyền thống chiến binh bộ lạc.

Một lợi điểm khác của quân Mông Cổ là khả năng di chuyển xa thậm chí trong thời tiết mùa đông khắc nghiệt; đặc biệt, các dòng sông băng đã đóng vai trò như các con đường cao tốc tới các vùng đô thị lớn hai bên bờ. Bên cạnh công nghệ vây thành, quân Mông Cổ còn thích ứng được với các công trình thủy, vượt sông Sajó trong điều kiện lũ mùa xuân với 30 ngàn kị binh trong đúng một đêm trong Trận Muhi (tháng 4, 1241), đánh bại vua Hungary Béla IV. Tương tự, trong cuộc tấn công các vua Hồi giáo của đế quốc Khwarezmid, quân Mông Cổ đã dùng một đội tàu nhỏ để chặn việc rút chạy theo đường sông
CSV _ St
>> Mông Cổ
|