Thành tựu mỹ thuật của người Việt cổ thời đại dựng nước qua những tác phẩm đồ gốm, đồ trang sức, đồ đồng, qua những hoạt động về tạo dáng, vẽ hình, chạm khắc, tạo tượng...là bằng chứng rõ rệt về tài năng, khiếu thẩm mỹ của một cộng đồng người sống chan hoà với thiên nhiên và sống khăng khít với nhau trong các làng chạ. Nền mỹ thuật Việt cổ nhiều màu vẻ có những nét đẹp bình dị, chững chạc, hài hoà, một nội dung hiện thực, chân chất, phản ánh khá đầy đủ tư duy, tình cảm và cuộc sống con người thời đó.
Khi những vật liệu hiện đại như xi măng chưa xuất hiện thì ông cha ta đã sử dụng một thứ vữa được chế bằng phương pháp thủ công, nguyên liệu mang đặc thù của địa phương. Ví như ốc vặn đốt thành than luyện với vỏ cây dè rớt, hoặc dùng mật luyện kỹ với vôi vỏ sò. Vùng Nghệ An dùng vỏ hến rây kỹ, trộn cát, thâm mật xấu, giấy bản ngâm ướt hay rơm nếp và trộn với nhựa lá cây bớt lời. Mật, đường lấy từ mía, người ta đã làm một chất dẻo để nặn phù điêu rồng phượng, hoa đá trang trí những cột trụ hay hình lưỡng long chầu nguyệt ở chùa.
Đam mê văn học, hội họa và thơ ca, lịch sử, với những thành công qua hai mươi năm làm việc, Phó Đức Phương thực sự là một trong không nhiều những "con chim đầu đàn" của một thế hệ nhạc sĩ trẻ đầy triển vọng thời trước. Khán giả yêu thích các tác phẩm của Ông thuộc mọi thế hệ, lứa tuổi, mọi tầng lớp, vì chúng không chỉ mang giai điệu đẹp, lời ca hay mà còn những ý nghĩa gắn liền với thời cuộc của đất nước, của cuộc sống người dân Việt Nam, như : Những cô gái quan họ, Hồ trên núi, Không thể và có thể, Một thoáng Tây hồ, Huyền thoại hồ núi Cốc, Về quê, Vũ khúc con cò, ...
Một mình em ngồi dựa lòng thuyền, dưới nước trên trăng,
Biết cùng ai trao duyên gởi phận cho bằng thế gian
Hai câu theo hình thức Hán văn của bài ca dao trên có nghĩa: Trời sinh ra người mà người không có lộc? Đất sinh ra cỏ, cỏ nào mà chẳng có rễ? Quy luật ấy của tạo hóa rành rành ra đó. Vậy mà em lại đang cô quạnh, chơi vơi giữa dòng nước, đất trời cùng mảnh thuyền không, “Biết cùng ai trao duyên gởi phận” đây?
Từ bao đời nay hát chèo đã trở thành một loại hình sinh hoạt văn hóa nghệ thuật quen thuộc của người dân Việt Nam, nuôi dưỡng đời sống tinh thần dân tộc bởi cái chất trữ tình đằm thắm sâu sắc. Trong kho tàng văn hóa nghệ thuật dân gian dân tộc, chèo là một loại hình sân khấu kịch hát đậm đà tính dân tộc, với sự kết hợp nhuần nhuyễn của hàng loạt yếu tố: hát, múa, nhạc, kịch mang tính nguyên hợp vô cùng độc đáo.
Đa phần những nhà nhiếp ảnh chuyên nghiệp đều hiểu được sự kỳ diệu của “Bóng” trong một bức hình, nhìn nhận và nắm bắt được nó. “Bóng” của hai người đang ngồi trên cát, trước biến, trong một thời điểm nào đó, một người nhìn ra cảnh xung quanh và bỗng nhiên, họ sửng sốt vì cái khoảng đen mà mặt trời đang chiếu xuống… Trong nghệ thuật nhiếp ảnh “Bóng” chỉ có thể đạt được sự hoàn hảo nhờ sự tính toán và sắp đặt của ánh sáng.
Từ những loại thực phẩm trong nhà bếp, những người nghệ sĩ khéo léo tạo ra các nhân vật hoạt hình được các em nhỏ yêu thích hay các chú lợn, con cá xinh xắn. Ảnh trên People.