Tiếng Việt vừa dễ vừa khó, đúng hơn, dễ mà lại khó. Dễ đến độ rất hiếm người Việt Nam nào cảm thấy có nhu cầu phải sắm một cuốn Từ Ðiển Tiếng Việt trong nhà. Dễ đến độ bất cứ người nào trưởng thành ở Việt Nam cũng đều có thể tưởng là mình... thông thái, và nếu muốn, đều có thể trở thành... nhà văn được. Thế nhưng, chỉ cần, một lúc thảnh thơi nào đó, ngẫm nghĩ một chút về tiếng Việt, chúng ta bỗng thấy hình như không phải cái gì chúng ta cũng hiểu và có thể giải thích được.
Tiếng Việt của tôi ơi, làm sao mỗi con dân đất Việt không nuôi đậm mối duyên với tiếng mẹ đẻ của mình? "Quê hương mỗi người chỉ một - Như là chỉ một mẹ thôi", và tiếng nói của quê hương, của mẹ cũng chỉ một - tiếng Việt. Những người con xa xứ chỉ lo sao truyền giữ được càng lâu càng tốt tiếng nói nước mình, cái cuống rốn nối mình với quê cha đất tổ. Mất tiếng nói là mất dân tộc tính, bởi tiếng nói đâu chỉ đơn thuần là ngữ ngôn, đó là cả cách ăn ở ứng xử, cách nghĩ suy cảm xúc cả truyền thống bao đời kết tụ, cả những linh cảm run rẩy trong mỗi nhịp điệu giọng điệu, mỗi ngừng nghỉ ngắt hơi.
Nhớ ngày còn đi học Trung học, trong các lớp hỗn hợp nam nữ, học sinh thường ít dám gọi đích danh nhau. Gọi bằng anh, chị thì ngại chê già, khách sáo; gọi tên lại có vẻ cầu thân. Tiến thối lưỡng nan đành... chấm chấm, ừm ừm, ê ê, ờ ờ,.. .nói bông lông, “nói trống không”, “nói trổng”:
“...Làm ơn tránh qua dùm một chút đi. Cám ơn.”
hoặc”...Nói có vậy mà cũng giận, khó quá.”
Muốn gợi chuyện làm quen cũng thường ấp úng hay “lửng lơ con cá vàng”:“Hôm qua thấy...đi chợ, muốn chào mà thấy... như muốn làm lơ nên thôi”.
W. Humboldt, nhà văn hóa lớn của nhân dân Đức, từng nói ngôn ngữ là "linh hồn của một dân tộc". Nhìn vào tiếng Việt, có thể nhìn thấy đúng là nó phản ánh rõ hơn đâu hết linh hồn, tính cách của người Việt Nam và những đặc trưng cơ bản của nền văn hóa Việt Nam.
Tiếng nói người Hà Nội xưa không lên bổng, xuống trầm một quãng rộng trong một câu nói mà khi vẽ đồ thị của mỗi câu nói thì nếu đồ thị của câu nói là 10, người Hà Nội chỉ nói ở quãng từ 5 tới 7, mà không nói từ 2 rồi lên 9, 10 rồi lại xuống 1, 2 như cách nói hôm nay… Rất nhiều người con chính gốc của Hà Nội đã đi xa lâu ngày, nay trở lại quê hương đều ngỡ ngàng trước cách nói của người Hà Nội hôm nay vì nó không còn là của đất Hà thành “gin” nữa! Họ nói rằng, tiếng nói của người Hà Nội hôm nay đã bị lai căng và “nhão” ra như tiếng của mấy người bán hàng rong từ đâu đó đã thâm nhập vào Hà Nội...
Ở Sài Gòn cũng như ở các tỉnh Nam bộ nói chung, những đại từ chỉ xuất hiện như anh ấy, chị ấy, ông ấy, bà ấy, trong ấy, ngoài ấy, bên ấy trong tiếng nói tự nhiên hàng ngày thường được phát âm "gộp lại" thành 1 tiếng, nghe gần như ảnh, chỉ, ổng, bả, trỏng, ngoải, bển, tuy trên những khí cụ ghi âm chính xác những tiếng này có dài hơi các từ mang thanh "hỏi-ngã”.
Thư pháp là nghệ thuật viết chữ của những nước sử dụng chữ tượng hình như Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam (chữ Hán Việt)... Viết thư pháp là để thư giản, để bình tâm và cũng để tải Đạo. Nó giúp cho tinh thần ta được thanh thản bằng một thứ hình tượng nghệ thuật tao nhã. Nhưng thư pháp Trung Hoa chưa đạt đến mức tâm không của thiền. Phải đợi đến khi du nhập sang Nhật nghệ thuật này mới trở thành một nghệ thuật được sự thán phục ở Tây phương.
Có một hiện tượng mà những người làm công tác nghiên cứu các văn bản Nôm địa phương không thể không xét đến. Đó là sự phản ánh ngữ âm của từng vùng vào chữ viết, tuy nhiên mỗi vùng lại có những sắc thái riêng. Điều này được quy định bởi nhiều nguyên nhân như điều kiện lịch sử, địa lý, sự giao lưu văn hóa… kết quả là tạo nên một số nét khác biệt so với ngôn ngữ toàn dân.
Cũng như một số nước “đồng văn”, Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc của nền văn hóa Trung Quốc và đã sản sinh ra những nhà nho viết chữ đẹp nổi tiếng. Hình ảnh ông đồ viết chữ Hán tài hoa ở phố phường Hà Nội trước đây đã được nhà thơ Vũ Đình Liên mô tả rất đẹp.
1- Phụ là cha, như phụ mẫu: cha mẹ, phụ thân: cha ruột, dưỡng phụ: cha nuôi
2- Phụ chỉ những bậc lớn hơn cha, hoặc ngang hàng với cha như tổ phụ: ông, bá phụ: bác, thúc phụ: chú, hoặc là tôn xưng người có danh giá: Thượng phụ chỉ Lã Vọng Khương Thái công, Ni Phụ chỉ Khổng Tử, Á phụ chỉ Phạm Tăng.
3- Phụ còn có âm là phủ, tiếng gọi tôn các người có tuổi như Ngư phủ: ông già đánh cá.
Trước năm 1945 nhà khoa học Tiệp Khắc, Cesmir Louklca trong tác phẩm Lịch sự chữ viết thế giới đã viết: “Phía Nam đế quốc Trung Hoa, trong vùng Đông Dương hiện nay, có nhà nước An Nam ngay từ thế kỷ thứ nhất trước công nguyên đã bị người Hán thống trị. Chữ Trung Quốc do viên Thái thú Sĩ Nhiếp du nhập vào đây trước công nguyên. Trước đó hình như người An-nam đã đọc bằng chữ ghi âm riêng, chữ đó không còn lại đến ngày nay” .