Xem trang sức xưa, mới thấy trang sức nay dù làm bằng chất liệu quý giá nào thì kiểu dáng cũng chưa hẳn đã vượt được người xưa. Bộ sưu tập trang sức thuộc các nền văn hóa Đông Sơn, Óc Eo, Sa Huỳnh, Phùng Nguyên... đang được trưng bày tại TP.HCM, có rất nhiều sản phẩm độc đáo như khuyên tai đá, trâm cài đầu, vòng chân, gương đồng, chuỗi hạt thủy tinh...
Ở xứ mưa lắm, nắng nhiều, người buôn thúng bán bưng cũng vương nét đoan trang. Trong tấm áo dài bạc màu vì một nắng hai sương, nối tay, nối vạt vì thiếu vải hay may bằng nhung điều quyền quý, người phụ nữ vẫn dịu dàng đến e ấp, nhẹ như mây, hiền như lúa, thơm như sen mùa hạ trong hồ Nội đô.
Trước CMT8-1945, đại đa số trung nông, tiểu chủ và những người làm nghề tự do (thợ may, cắt tóc, lái xe, thợ rèn...) thường sắm cho mình một bộ "lễ phục" gồm chiếc áo dài bằng xuyến hoặc lương đen, một quần trắng bằng lụa hay vải, và một chiếc khăn đóng (khăn xếp). Địa chủ giàu, thương gia hay tư sản, và cả những công chức cũng sắm một bộ y phục như thế, có khác chăng là may bằng loại vải đắt hay rẻ tiền.
Nhìn chung, cách ăn mặc của người Bến Tre không có sự khác biệt với các tỉnh xung quanh, cũng như ở Nam Bộ nói chung. Quan sát kỹ, ta thấy cách ăn mặc đó còn mang những nét khá rõ của cha ông từ miền ngoài vào. Dĩ nhiên qua hàng trăm năm, qua sự tác động của giao lưu văn hóa với các dân tộc người láng giềng, đặc biệt ảnh hưởng của Pháp, cách ăn mặc ngày thường và ngày lễ đã có nhiều thay đổi, biến cải.
Khăn “lương”, khăn “xếp” hay khăn “đóng” là bộ phận cấu thành trong cách ăn nết mặc của người Việt, là một phần không thể thiếu trong bộ quốc phục “giày da, khăn điều, áo đoạn” của truyền thống Việt ta.
Nói đến trang phục đặc sắc của dân tộc Việt Nam thời hiện đại, nhất là của phụ nữ, của "phái đẹp", chúng ta và cả bạn bè quốc tế đều nhắc đến chiếc áo dài truyền thống. Thế nhưng trong suốt lịch sử mấy trăm năm về trước, trang phục tiêu biểu đã làm nên dáng đẹp của các "quý bà, quý cô" nước Việt lại chính là những tấm áo mớ ba, mớ bảy với chiếc nón thúng quai thao.
Nhỏ bé, thường không tách rời và tạo thêm vẻ duyên dáng cho trang phục truyền thống của các dân tộc, đó là những chiếc khăn quàng cổ. Với người dân vùng sông nước Cửu Long, chiếc khăn rằn trở thành vật dụng không thể thiếu trong đời sống lao động của họ.
Người Việt Nam, dù nam phụ, lão ấu, dịp này đều muốn mặc những bộ quần áo mới nhất, đẹp nhất. Nếu trong chuyện ăn, dân ta quan niệm “đói quanh năm, no ba ngày Tết”, thì trong chuyện mặc, người Việt cũng cố gắng chăm chút sao cho nổi bật hơn ngày thường. Vừa là để muôn hồng ngàn tía của vải vóc lụa là xua đi hết lo toan năm cũ, vừa để khởi đầu một năm mới nhiều may mắn cho mình và những người xung quanh. Không khí Tết cũng nhờ thế mà thiêng liêng, trang trọng hơn.
Áo dài Huế được nhiều loại người Huế ưa mặc, trước nhất là học sinh, sinh viên, viên chức, thanh niên, rồi cả đến những lớp người trung niên, các bà già, chị em làm nghề buôn bán nhỏ ở các cửa tiệm, ở ngoài chợ... Các cô gái chọn màu quần tuyền trắng hay màu tím nhạt, các em học sinh, sinh viên chọn màu áo tím Huế thành đồng phục.. với áo trắng, áo tím, với cánh nón trắng mỏng manh là thế, nhưng suốt hàng thế kỷ nay, nó vẫn bền vững, thủy chung với nữ tính và dân tộc tính, bất chấp mọi sự tấn công của lối sống, kiểu mặc lai căng mất gốc.
“Đàn bà vấn khăn thâm, hoặc lượt hoặc nhiễu, hay vải nâu. Giời rét thì bịt thêm cái khăn vuông bằng vải nâu hoặc bằng xuyên thâm. Yếm cổ xây hay viền, dùng màu trắng nhiều hơn cả. Áo cũng dùng màu thâm, hoặc màu nâu, duy người ăn chơi hoặc con hát mới mặc các màu xanh đỏ. Quần phần nhiều mặc vải sồi, lĩnh thâm, đôi khi cũng có người mặc nhiễu đỏ”.
Khi hát quan họ, liền anh mặc áo dài 5 thân, cổ đứng, có lá sen, viền tà, gấu to, dài tới quá đầu gối. Thường bên trong mặc một hoặc hai áo cánh, sau đó đến hai áo dài. Trang phục liền chị thường được gọi là "áo mớ ba mớ bảy", nghĩa là liền chị có thể mặc ba áo dài lồng vào nhau (mớ ba) hoặc bảy áo dài lồng vào nhau (mớ bảy). Tuy nhiên trong thực tế, các liền chị thường mặc áo mớ ba.