Một mình em ngồi dựa lòng thuyền, dưới nước trên trăng,
Biết cùng ai trao duyên gởi phận cho bằng thế gian
Hai câu theo hình thức Hán văn của bài ca dao trên có nghĩa: Trời sinh ra người mà người không có lộc? Đất sinh ra cỏ, cỏ nào mà chẳng có rễ? Quy luật ấy của tạo hóa rành rành ra đó. Vậy mà em lại đang cô quạnh, chơi vơi giữa dòng nước, đất trời cùng mảnh thuyền không, “Biết cùng ai trao duyên gởi phận” đây?
Trong hơn 20 năm cầm bút, nhà văn Trúc Khê đã để lại gần 60 tác phẩm là các bài bình luận, biên khảo, đóng góp cho nền văn hóa dân tộc, để lại cho thế hệ sau một gia sản đồ sộ về văn hóa.
Trong các vùng tạm bị địch tạm chiếm ở Nam Việt Nam, thời những năm 1954 - 1975, đã tồn tại và phát triển một nền văn học như là một trong những lực lượng quan trọng của văn hóa, văn nghệ cách mạng, yêu nước tiến bộ ở đây. Luồng văn hóa, văn nghệ này đã quyết liệt chống đối với các thứ văn hóa, văn học, nghệ thuật phản động, đồi trụy, lai căng do lực lượng xâm lược Mỹ và ngụy quyền tạo ra; khơi một dòng trong giữa những dòng đục, góp phần tạo nên sức mạnh tổng hợp chiến thắng xâm lăng, đem lại thống nhất vẹn toàn cho đất nước.
Nguyễn Công Hoan quê ở làng Xuân Cầu xã Nghĩa Trụ huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên (thời ấy thuộc tỉnh Bắc Ninh). Ông sinh trong một gia đình quan lại xuất thân nho học thất thế trong bối cảnh xã hội lúc bấy giờ. Trong gia đình mình, từ nhỏ Nguyễn Công Hoan đã được nghe và thuộc rất nhiều câu thơ, câu đối, những giai thoại có tính chất trào lộng, châm biếm, đả kích tầng lớp quan lại và điều đó đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến phong cách văn chương của ông sau này.
Vũ Trọng Phụng là một trong những cây bút tiêu biểu của nền văn xuôi Việt Nam hiện đại. Cuộc đời ông tuy ngắn ngủi (20.10.1912 - 13.10.1939) nhưng di sản tinh thần mà ông để lại khá đồ sộ: hơn 50 tác phẩm (28 truyện ngắn, 9 tiểu thuyết, 8 phóng sự, 6 kịch bản, 1 dịch thuật), trong đó có một số được xem là kiệt tác như Kỹ nghệ lấy Tây (1934), Giông tố (1936), Số đỏ (1936), Vỡ đê (1936). Ngoài ra, còn có một số bài viết tranh luận, phê bình văn học và hàng trăm bài báo về các vấn đề chính trị, xã hội, văn hóa...
Nguyễn Khải tên thật là Nguyễn Mạnh Khải, sinh ngày 3 tháng 12 năm 1930 tại Hà Nội. Quê nội ở thành phố Nam Định nhưng tuổi nhỏ sống ở nhiều nơi. Đang học trung học thì gặp Cách mạng tháng Tám. Trong Kháng chiến chống Pháp, Nguyễn Khải gia nhập tự vệ chiến đấu ở thị xã Hưng Yên, sau đó vào bộ đội, làm y tá rồi làm báo. Bắt đầu viết văn từ những năm 1950, được chú ý từ tiểu thuyết Xung đột (phần I năm 1959, phần II năm 1962).
Nam Cao (1915-1951) là một trong những nhà vănViệt Nam tiêu biểu nhất thế kỷ 20. Nhiều truyện ngắn của ông được xem như là khuôn thước cho thể loại này. Đặc biệt một số nhân vật của Nam Cao trở thành những hình tượng điển hình, được sử dụng trong ngôn ngữ hàng ngày.
Nguyễn Tuân (10 tháng 7 năm 1910 – 28 tháng 7 năm 1987) là một nhà văn nổi tiếng của Việt Nam. Sách giáo khoa hiện hành xếp ông vào một trong 9 tác giả của văn học Việt Nam hiện đại. Ông viết văn với một phong cách tài hoa uyên bác và được xem là bậc thầy trong việc sáng tạo và sử dụng tiếng Việt. Hà Nội có một con đường mang tên ông.
Cảnh Đèo Ngang thật khác xa với cảnh Thăng Long. Nhiều thiên nhiên hơn, ít nhân tạo hơn. Nhìn gần, thi nhân thấy thiên nhiên cũng chen chúc. Một mặt, cái hữu sinh (cỏ cây) lấn át cái vô sinh (đá), mặt khác, trong giới, hữu sinh, cái thô lậu hơn (lá) lại lấn át cái tinh tế hơn (hoa). Còn nhìn xa: vạn vật thu nhỏ như trong hòn non bộ. Con người thì nhỏ nhoi, cực nhọc (Lom khom dưới núi tiều vài chú), nơi "vui như chợ", "đông như chợ" thì cũng lại thưa thớt (Lác đác ven sông chợ mấy nhà).
Ngô Tất Tố (1894 - 1954) là một nhà vănhiện thực Việt Nam, tác giả tiểu thuyết Tắt đèn.
Ngô Tất Tố sinh năm 1894 ở làng Lộc Hà, tổng Hội Phụ, phủ Từ Sơn, Bắc Ninh (nay là xã Mai Lâm, huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội). Từ nhỏ, Ngô Tất Tố theo học chữ Nho. Năm Nhâm Tý1912, ông bắt đầu dự thi. Đến năm Ất Mão1915 ông đỗ đầu kỳ sát hạch, nên được gọi là đầu xứ Tố.