Từ bao đời nay hát chèo đã trở thành một loại hình sinh hoạt văn hóa nghệ thuật quen thuộc của người dân Việt Nam, nuôi dưỡng đời sống tinh thần dân tộc bởi cái chất trữ tình đằm thắm sâu sắc. Trong kho tàng văn hóa nghệ thuật dân gian dân tộc, chèo là một loại hình sân khấu kịch hát đậm đà tính dân tộc, với sự kết hợp nhuần nhuyễn của hàng loạt yếu tố: hát, múa, nhạc, kịch mang tính nguyên hợp vô cùng độc đáo.
Bản Vọng cổ trước hết có tên là Dạ cổ được nhạc sỹ Cao Văn Lầu sáng chế hồi năm 1920 (sau ba năm khi cải lương ra đời). Sanh 1890, ông Sáu Lầu được 30 tuổi khi ông chế bản Vọng cổ. Lúc ấy ông cưới vợ được 10 năm, nhưng không có con. Cha mẹ ông buộc phải cưới vợ khác vì sợ tuyệt tự. Ông buồn rầu không còn muốn làm ăn gì nữa. Ban ngày ra ngoài đồng, ông nghiền ngẫm những lời vợ ông nói trước khi chia tay. Ông biết đờn cổ nhạc nên trong tâm trạng người chồng đau khổ trước cảnh gia đình tan rã, ông cảm hứng tạo ra bản nhạc 20 câu gọi "Dạ cổ hoài lang" (Ðêm khuya nghe tiếng trống nhớ chồng),
Trải qua 49 năm (1958-2007) là quãng thời gian mà biết bao thế hệ diễn viên, nhạc công của Đoàn đã không ngại gian khó, không sợ hy sinh, vừa tích cực biểu diễn phục vụ trên các chiến trường vừa hăng say học tập và luyện tập, biểu diễn thành công nhiều vở kịch nói. Có thể kể ra những vở kịch gây được tiếng vang của Đoàn như: Tiền tuyến gọi, Chị Nhàn, Bản danh sách điệp viên, Cầu nổi cầu chìm, Nhật ký người mẹ, Sóng đen vùng nhiệt đới, Người con cô đơn, Những cánh chim dũng cảm, Kim và Thạch, Tuổi trẻ và tình yêu, Giá đời phải trả, Tội lỗi và tình thương, Chuyện thường tình ở huyện, 15 ngày kháng án... và nhiều vở kịch ngắn mang tính thời sự khác. Đến nay, kịch nói Hà Tây là một đoàn kịch có tên tuổi trong làng sân khấu Việt Nam, được nhiều đoàn bạn khâm phục.
Là hội viên Hội Mỹ thuật Việt Nam, nhưng khi nhắc đến Lê Năng Hiển, rất nhiều người sống cùng thời với ông lại nhớ ngay đến một kịch sĩ tài ba chuyên vào vai phụ nữ, một tài tử với những mối tình dang dở. Đã có lần người nghệ sĩ đa tài này "độc diễn" 8 vai trong một vở chèo.
Rôbăm là loại hình sân khấu độc đáo của người Khmer Nam Bộ, vừa có phần lời hát, vừa có điệu múa kèm theo (có phần nào giống với hình thức hát bội của người Việt) và là hình thức sân khấu mặt nạ. Khi biểu diễn, các nhân vật đều mang mặt nạ như khỉ hanuman, chằn tinh, ngựa, voi... và các nhân vật như ông vua, hoàng tử, công chúa. Loại hình nghệ thuật Rôbăm của người Nam Bộ trước đây là của cung đình, sau đó phát triển trong dân gian và dần dần trở thành phổ biến.
Khác với kịch nói lấy lời thoại là chủ yếu, kịch hình thể (KHT) đẩy nói xuống hàng thứ yếu hoặc có khi không nói. KHT lấy ngôn ngữ hình thể làm trung tâm hàng đầu và làm phương tiện số một biểu hiện xung đột trên sân khấu. Người diễn viên thay vì nói, dùng những động tác tạo hình gần giống múa rất đẹp, mà nói theo ngôn ngữ sân khấu là phác họa những động tác có mã hình thể để tả thực, tả thần. KHT sử dụng ngôn ngữ tổng hợp, dùng động tác của toàn bộ cơ thể làm chủ đạo
Múa rối thì hầu như dân tộc nào cũng có, còn múa rối nước thì trên thế giới chỉ duy nhất Việt Nam có. Nghệ thuật múa rối nước xuất hiện từ đời Lý (1010 - 1225). Dấu vết rối nước còn ghi lại ở nhiều nơi…
Khởi nghiệp từ năm 1957 với tên gọi Cổ Phong, 50 năm qua, cùng với sự phát triển của ngành VHTT, Đoàn Chèo Hà Tây đã đóng góp một phần đáng kể vào kết quả hoạt động của văn hóa thông tin, góp phần gìn giữ và phát huy di sản nghệ thuật chèo truyền thống, giúp nâng cao mức hưởng thụ văn hóa cho nhân dân. Để đánh giá đúng mức sự đóng góp của tập thể cán bộ diễn viên nhân 50 năm thành lập, đồng thời nhằm đáp ứng nhu cầu phục vụ nhân dân trong giai đoạn mới, ngày 17-3-2008, UBND tỉnh đã có Quyết định số 576/QĐ-UB, nâng cấp Đoàn Chèo Hà Tây lên thành Nhà hát Chèo Hà Tây.
Nhắc đến Cải lương Hoa Mai là người ta nhắc đến tên tuổi những nghệ sĩ tài danh: NSND Mạnh Tưởng; NSƯT Tuyết Sơn, NSƯT Huỳnh Kim, NSƯT Thanh Lâm... Đối với họ, Cải lương Hoa Mai như một gia đình lớn. Ở đó, họ được hoà mình dưới ánh đèn sân khấu, được thoả thích phô bày những lời ca, giọng hát mượt mà tình cảm và được đắm say cùng nhân vật.
30 năm, gần 200 vở kịch nói; trên 100 chương trình ca-múa-nhạc, kịch hát, kịch hình thể và các chương trình lễ hội được dàn dựng với hơn 9.000 buổi, phục vụ khoảng gần 9 triệu lượt khán giả từ biên giới hải đảo, vùng sâu vùng xa đến đồng bào ta đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài... Nhà hát Tuổi trẻ đã thể hiện được cái “tầm” của một Nhà hát trong việc vừa giữ vững sân khấu truyền thống nhưng luôn là lá cờ đầu trong công tác xã hội hóa sân khấu tại miền Bắc.
Sinh ra trên đất Thái Bình, ngay từ hồi 9 tuổi, NSƯT Thanh Ngoan đã đi học hát chèo ở khắp nơi trong tỉnh. Trong một lần hát phục vụ đại hội Đảng trong huyện, chị tình cờ biết Nhà hát chèo Việt Nam về tuyển diễn viên. Thế là cô bé Thanh Ngoan bấy giờ mới 13 tuổi, khăn gói quả mướp lên Hà Nội, một mình đeo đuổi nghiệp chèo. Từ đó đến nay đã 23 năm, cô trò Thanh Ngoan bé nhất lớp nay đã trở thành Nghệ sĩ ưu tú với nhiều giải thưởng và danh hiệu cao quý.